Khu Di tích lịch sử Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; là nơi thờ các vua Hùng có công dựng nước, Tổ Tiên của dân tộc Việt Nam. Ngày xa xưa vùng đất này là khu vực trung tâm của nước Văn Lang, nằm giữa hai dòng sông giống như hai dãy hào thiên nhiên khổng lồ bao bọc lấy cố đô xưa của các vua Hùng.
Phía đông với các dãy núi non trung điệp. Vùng đất này có nhiều sông ngòi ao hồ, đồi núi, lại có những cánh đồng màu mỡ phì nhiêu do phù xa của ba con sông bồi đắp, vừa thuận lợi cho cuộc sống định canh định cư, vừa thuận lợi cho việc phòng thủ hay rút lui khi xảy ra các cuộc xung đột bộ lạc.
Hiện nay dấu vết cư trú của dân cư thời đại các vua Hùng còn để lại trong hàng chục di chỉ khảo cổ học, được phân bố dày đặc từ huyện Lâm Thao tới ngã ba Bạch Hạc - Việt Trì. Những di chỉ khảo cổ học đo là minh chứng một thời đại, với nghề luyện kim đồng thau và trồng lúa nước của một nền văn minh nông nghiệp, đã từng tồn tại trược công nguyên hàng nghìn năm.
Đền Hùng là trung tâm, là tiêu điểm về thời đại các vua Hùng, các ngôi đền thờ vua Hùng nằm trên núi Nghĩa Lĩnh (còn gọi là núi Cả theo địa phương hay các tên khác: núi Hùng, núi Hy Cương), có độ cao 175 mét so với mặt nước biển. Trước kia khu vực này là cánh rừng già nhiệt đới. Ngày nay núi Hùng vẫn giữ dáng vẻ của rừng tự nhiên với nhiều thế hệ cây tầng khác nhau, gồm 150 loài thảo mộc, thuộc 35 họ, trong đó còn lại một số cây đại thụ lớn như: đa, thông, thiên tuế, trò vv...
ngất (núi cha) tụ lại. Sát núi Hùng còn có những quả đồi như phượng cặp như (Tiên Kiên), hổ phục (Khang Phụ - Chu Hoá). Cảnh thế ngoạn mục hùng vĩ, đất đầy khí thiêng của sơn thuỷ tụ hội. Đứng trên đỉnh cao Nghĩa Lĩnh ta có thể bao quát toàn bộ một vùng rộng lớn với cảnh đẹp của sơn thuỷ hữu tình. Tương truyền vua Hùng đã đi khắp mọi miền, về đây chọn làm đất đóng đô.
Đền Hạ
Được xây dựng vào thế kỷ XVII - XVIII. Kiến trúc kiểu chữ nhị (=) gồm Tiền bái và Hậu cung. Kiến trúc đền Hạ đơn sơ, kèo cầu suốt, quá giang đóng trụ, mái lợp ngói mũi.
Tương truyền rằng nơi đây, mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, sau nở thành trăm người con trai, nguồn gốc của cộng đồng người Việt, nghĩa “đồng bào” (cùng bọc) được bắt nguồn từ đây.. Khi các con khôn lớn cha Lạc Long Quân mang theo 50 người con về vùng biển quai đê lấn biển, mở mang bờ cõi. Mẹ Âu Cơ mang theo 49 người con ngược lên vùng núi, trồng dâu, chăn tằm, dệt vải, xây dựng cuộc sống. Người con trưởng ở lại làm Vua, cha truyền con nối 18 đời đều gọi là Hùng Vương.
Chùa Thiên Quang
Truyền thuyết kể rằng vua Hùng thứ 6 sau chiến thắng giặc Ân đã lập miếu thờ Thánh Gióng để ghi nhớ công ơn người anh hùng đã đánh giặc cứu nước.
Người đời sau, biết ơn các vua Hùng nhân dân ta đã lập đền thờ Hùng Vương.
Đền thượng đến thế kỷ XV được xây dựng quy mô, vào thời Nguyễn triều đình cấp tiền, cử quan về giám sát việc đại trùng tu.
Ngày 18/9/1962 Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Đền Hùng, người đã nghỉ trưa ở cửa ngách Đông Nam đền Thượng trước khi về Bác căn dặn phải trồng cây cối. Xây dựng Đền Hùng thành công viên lịch sử cho con cháu sau này thăm viếng.
Lăng Hùng Vương
Tương truyền là mộ vua Hùng thứ 6, trước khi chết có dặn hãy chôn ta trên núi Cả để đứng trên núi cao ta còn trông nom bờ cõi cho con cháu. Xưa là mộ đất, đến thời Tự Đức năm thứ 27 (1870) cho xây Lăng Mộ, thời Khải Định năm thứ 2 (1922) được đại trùng tu như ngày nay
Cột Đá Thề
Tương truyền rằng Thục Phán An Dương Vương khi được vua Hùng nhường ngôi đã thề nguyện muôn đời bảo vệ giang sơn gấm vóc mà vua Hùng trao lại và đời đời hương khói họ Hùng
Đền Giếng
Tên chữ là Ngọc Tỉnh. Tương truyền là nơi hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa con gái Vua Hùng thứ 18 thường soi gương chải tóc khi theo cha đi kinh lý qua vùng này. Hai nàng là người có công dậy dân trồng lúa, trị thuỷ nên nhân dân lập đền thờ.
Đền được xây dựng vào thế kỷ thứ 18, đền được xây dựng lên trên giếng nên hiện nay giếng ở bên trong hậu cung của đền bốn mùa nước trong mát, không bao giờ cạn.
Hiện nay đền có kiến trúc kiểu chữ công (I) gồm Tiền bái, ống muống, Hậu cung, hậu cung được xây dựng kiểu chuỗi vồ. Mái đền lợp ngói mũi, bờ nóc trang trí lưỡng long chầu nguyệt.
Ngày 19/9/1954 Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Đền Hùng, Người nói chuyện với các đồng chí cán bộ Đại Đoàn quân tiên phong, tại đền Giếng Người căn dặn
" Các Vua Hùng đã có công dựng nước
Đền tổ mẫu Âu Cơ
Đền Tổ Mẫu Âu Cơ được xây dựng trên đỉnh núi Vặn (Tên mỹ là tự là núi Ốc Sơn), thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, có độ cao 170,2m so với mặt biển, nằm trong hệ thống “Tam sơn cấm địa” là núi Hùng, núi Trọc, núi Vặn.
Đứng trên đỉnh núi Vặn có thể bao quát một vùng rộng lớn sơn thuỷ hữu tình. Phía trước núi Vặn là núi Hùng, nơi thờ tự các vua Hùng. Núi Hùng trông xa giống như đầu con rồng lớn, mình rồng uốn lượn thành núi Trọc, núi Vặn ở phía sau. Bên tả có dòng sông Hồng, bên hữu có dòng sông Lô tựa như hai dải lụa đào, bao bọc lấy ba ngọn “Tổ Sơn” ở giữa. Phía sau núi Vặn là những dãy đồi lớn san sát như bát úp, gắn với truyền thuyết “Trăm voi chầu về Đất Tổ”. Cảnh thế ngoạn mục hùng vĩ, đất đầy khí thiêng của sơn thuỷ tụ hội.
Đền Tổ Mẫu Âu Cơ là một quần thể kiến trúc bao gồm: Đền chính thờ Mẫu Âu Cơ, nhà tả vu, nhà hữa vu, nhà bia, trụ biểu, tam quan… được thiết kế theo phong cách xây dựng truyền thống, xen lẫn tính hiện đại. Các hoạ tiết trên trống đồng Đông Sơn: Cột gỗ có thớt đá kê, tường xây gạch mộc đỏ, mái đền có đầu đao cong vút như cánh chim Lạc, trụ biểu đá giống như cây bút đang viết lên trời xanh… cho nhân dân ta vừa cảm giác gần gũi với mẹ vừa thiêng liêng cao quý.
Trong Hậu cung đền đặt tượng Tổ Mẫu Âu Cơ được làm bằng đồng. Phía dưới đặt tượng Lạc hầu, Lạc tướng.
trăm trứng, sau nở thành trăm ngời con trai. Khi các con khôn lớn, Cha Lạc Long Quân đưa 50 người con xuôi về vùng biển mở mang bờ cõi. Mẹ Âu Cơ đưa 49 người con lên vùng núi sinh cơ lập nghiệp, trồng dâu, chăn tằm, dệt vải xây dựng cuộc sống. Trong dân gian hình ảnh mẹ Âu Cơ là người mẹ đầu tiên khai sinh ra cả dân tộc.
Về thăm Di tích lịch sử Đền Hùng, viếng đền Tổ Mẫu Âu Cơ, thể hiện đạo lý truyền thống của dân tộc “Uống nớc nhớ nguồn”, mà câu đối ở Đền Tổ Mẫu đã nói hộ tấm lòng của nhân dân ta:
- Tòng lai thiên thượng hữu tiên biệt thành vũ trụ.
- Thí vẫn nhân gian vô mẫu hà đẳng càn khôn
Dịch: - Xa nay trên trời có tiên tạo thành vũ trụ
- Thử hỏi ở đời không mẹ sao có đất trời.
Đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ là một công trình văn hoá lớn của thời đại chúng ta - con cháu các vua Hùng xây dựng nên, nhằm mục đích “quy tụ” và “hội tụ” văn hoá “Đền Hùng”. Bổ sung cho quần thể kiến trúc tín ngưỡng trong Di tích lịch sử Đền Hùng, thể hiện tình cảm của nhân dân ta đối với Tổ Mẫu Âu Cơ người mẹ thiêng liêng huyền thoại của dân tộc Việt Nam.
Đền Thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân
Đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân được xây dựng dưới chân núi Sim vào năm 2006, nằm trong quần thể kiến trúc của Di tích lịch sử Đền Hùng.
Núi Sim nhìn xa có hình giống con rùa lớn đang hướng về Hồ Hóc Trai. Núi có độ cao 94m, diện tích rộng 5ha. Cách cổng chính Đền Hùng về phía Đông Nam chừng hơn 100m theo đường chim bay.
Đứng trên đỉnh núi Sim, có thể nhìn bao quát một vùng đất rộng lớn, nơi đây có núi non trùng điệp. Trước mặt là cánh đồng trải rộng bằng phẳng, thoải thoải dần về phía hồ nước mênh mông. Bên trái có núi Hóc Nay, bên phải có núi Nỏn xa xa ẩn hiện đền Tổ Mẫu Âu Cơ. Cảnh thế hùng vĩ uy linh của sơn thuỷ tụ hội.
Trong đền đặt tượng Quốc Tổ Lạc Long Quân, tượng Lạc Hầu, Lạc Tướng được đúc bằng đồng. Đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân tạo thành một quần thể kiến trúc cảnh quan, góp phần bảo tồn, tái tạo hình ảnh lịch sử, đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong việc thờ tự thuỷ tổ dân tộc. Nhằm giáo dục các giá trị truyền thống dân tộc.
Bảo tàng Hùng Vương
Bảo tàng Hùng được xây dựng năm 1986 do Hội kiến trúc sư Việt Nam thiết kế phỏng theo truyền thuyết bánh Chưng, bánh Dầy phản ánh quan niệm của người Việt cổ về vũ trụ trời tròn, đất vuông.
Năm 1993 Bảo tàng mở của đón khách thăm quan, với hơn 700 hiện vật, 102 bức ảnh, 4 bức tranh bằng gốm tráng men, 5 bức tranh sơn mài, 9 bức gò đồng, 5 hộp hình, một nhóm tượng bằng đồng và nhiều hiện vật bổ trợ. Bảo tàng đã giới thiệu khái quát sự nghiệp dựng nước Văn Lang của các vua Hùng thông qua các nội dung trung bầy với các chủ đề chính.
I. Đất nước con người một thời nguyên thuỷ.
Từ Ba Vì đến Tam Đảo, từ vài vạn năm về trước trên nền tảng của những cao nguyên, bình nguyên vùng hồ đứt gãy thành những dòng sông cổ với những thềm phù xa cổ, đã có 3 miền núi non, đồi gò, đồng bãi với 3 dòng sông lớn, tụ hội quanh miền núi Hùng. Những quần thể động vật, thực vật cổ, sống phủ khắp nơi này tạo môi trường sinh tụ cho người cổ. Hươu, nai, lợn rừng... còn xương, răng hóa thạch cổ ở Hang Ngựa (Thanh Sơn) có tuổi 4 vạn năm. Văn hoá Sơn Vi gồm hơn 100 địa điểm khảo cổ chứa đựng những công cụ đá cuội ghè giống những di vật tìm được đầu tiên ở đồi Sơn Vi (Lâm Thao) có tuổi 2 vạn năm, là chứng tích của những người nguyên thuỷ trên đất Phú Thọ xưa, để cho sau này, có ngày các vua Hùng bắt đầu thời dựng nước...
II. Bắt đầu thời dựng nước
truyền con nối được gọi là Hùng. Nòng cốt của cuộc vận động dựng nước đầu tiên đã thành hình và để lại trong lòng đất vô vàn chứng tích mà những cuộc khai quật đã phát hiện và sắp xếp lại thành những văn hoá cổ có niên đại từ 4 đến 3 nghìn năm, mang tên của những địa danh: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun...
III. Sự nghiệp dựng nước Văn Lang của các Vua Hùng.
Ở thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên - niên đại của những trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Miếu Môn, Hy Cương, của văn hoá Đông Sơn rực rỡ có diện phân bố từ biên giới phía Bắc vào tới miền Trung đất nước bấy giờ bằng các hiện vật tiêu biểu ở Phú Thọ với các di tích Làng Cả Gò De, . Các thủ lĩnh Hùng, từ cương vị quân chủ bộ lạc Văn Lang, từ nền tảng kỹ thuật cuối hậu kỳ đá mới - sơ kỳ đồng thau, đã vượt lên mở rộng địa bàn và ảnh hưởng - đẩy mạnh sự phát triển văn minh và xã hội tới mức kỹ thuật đồng thau - sắt sớm, liên minh và áp phục 15 bộ lạc, trở thành thủ lĩnh liên minh bộ lạc, rồi quân chủ quốc gia. Vua Hùng! Phú Thọ ở Thiên niên kỷ thứ I TrCN từ chỗ là bộ lạc Văn Lang đã trở thành địa bàn gốc của nước Văn Lang. Một dân tộc - một nhà nước, một xã hội của phương thức sản xuất châu Á, một bản sác dân tộc đều mang tên là Văn Lang: Con người! Đó là thành tựu công đức lớn lao từ một thời rất xa xưa: thời đại các vua Hùng dựng nước đầu tiên.
IV. Con cháu tưởng nhớ các Vua Hùng
Giới thiệu về Di tích lịch sử Đền Hùng từ xưa đến nay và việc thờ cúng tổ tiên trên vùng đất cổ Phong Châu, về sự quan tâm của Nhà nước phong kiến, của Đảng, Chính phủ, đặc biệt là sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Đền Hùng. Ngày nay, Đền Hùng đã và đang được tôn tạo, tu bổ, xây dựng xứng đáng là trung tâm văn hoá tâm linh của dân tộc Việt Nam.
Lịch sử ngày Giỗ Tổ Hùng Vương
"Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm"
tượng tôn kính, linh nghiêm quy tụ và gắn bó với dân tộc Việt Nam.
Từ xa xưa lễ hội Đền Hùng đã có vị thế đặc biệt trong tâm thức của người Việt Nam. Trong ngọc phả Hùng Vương (1470) đã chép “Từ đời nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần rồi đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa (Cổ tích), ở đây nhân dân toàn quốc đều đến lễ bái để tưởng nhớ công lao của đấng Thánh Tổ Xưa”.
Đến đời nhà Nguyễn vào năm Khải Định thứ 2 (1917) tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc đã trình bộ lễ định ngày mùng mười tháng ba âm lịch hàng năm làm ngày quốc tế (tức trước ngày Giỗ Tổ Hùng Vương một ngày, còn ngày giỗ Tổ 11 tháng 3 âm lịch do dân sở tại làm lễ).
Sau cách mạng tháng Tám (1945) Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm tới Đền Hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đều về thăm viếng.
Tại Nghị định 82/2001/NĐ-CP ngày 6/11/2001 của Chính phủ về nghi lễ nhà nước và đón tiếp khách nước ngoài quy định cụ thể sau:
Năm chẵn (năm có chữ số cuối cùng là 0) Bộ văn hoá thông tin và UBND tỉnh tổ chức lễ hội, mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà ước, Quốc Hội, Chính Phủ, UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự lễ dâng hương.
Năm tròn (năm có chữ số cuối cùng là 5) UBND tỉnh tổ chức lễ hội, mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc Hội, Chính Phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự lễ dâng hương và tổ chức các hoạt động trong lễ hội.
Ngày 2/4/2007 Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê chuẩn sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Luật Lao động cho người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch).
Tín ngưỡng thờ tự trên núi Hùng
- Ất Sơn thánh vương thánh vị
- Viễn Sơn thánh vương thánh vị.
- Đột ngột cao sơn cổ việt Hùng thị thập bát thế thánh vương thánh vị
Riêng đền Thượng bài vị ghi:
- Ất Sơn thánh vương vị
- Đột ngột cao sơn hiển Hùng ngao thống thuỷ điện an Hoàng tế chiêu liệt ứng quảng huệ, y diễm hàm công thánh vương vị.
- Viễn Sơn thánh vương vị.
Trong các ngôi đền Hạ, Trung, Thượng còn một long ngai không có bài vị, theo lời kể của cư dân đó là nơi thờ 2 nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa con gái vua Hùng thứ 18.
Với truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn, việc thờ cúng tổ tiên các vua Hùng có ý nghĩa đặc biệt linh thiêng trong tâm thức của dân tộc Việt Nam.
Trong Di tích lịch sử Đền Hùng ngoài các di tích thờ Hùng vương còn có các thiết chế văn hoá mới được xây dựng nhằm “quy tập” các giá trị văn hoá Thời đại Hùng Vương tại Di tích lịch sử Đền Hùng: Đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ, đền thờ Quốc Tổ Lạc Long QuânSau này con cháu biết ơn Tổ tiên đã lập đền thờ các vua Hùng nên các đền: Hạ, Trung đều có bài vị ghi.





